Phan Bội Châu
- Danh từ riêng:
- Một nhà yêu nước, nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu là tên một nhân vật lịch sử, biểu tượng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Pháp.
- Một danh nhân văn hóa, tác giả của nhiều tác phẩm văn chương, chính luận nổi tiếng: Phan Bội Châu còn được biết đến với vai trò một nhà nho, một tác giả có sự nghiệp sáng tác đồ sộ nhằm thức tỉnh lòng yêu nước.
- Danh từ riêng:
- Phan Bội Châu là linh hồn của phong trào Đông Du.
- Các tác phẩm của Phan Bội Châu đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong lòng thanh niên đương thời.
- Bảo tàng lưu giữ nhiều kỷ vật về cuộc đời hoạt động của Phan Bội Châu.
"Tinh thần Phan Bội Châu": cụm từ dùng để chỉ ý chí kiên cường, lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất trước kẻ thù xâm lược, luôn tìm đường cứu nước.
- Thanh niên ngày nay cần phát huy tinh thần Phan Bội Châu trong công cuộc xây dựng đất nước.
"Theo gương Phan Bội Châu": hành động noi theo con đường yêu nước, hy sinh vì dân tộc của cụ.
- Thế hệ trẻ nguyện theo gương Phan Bội Châu, cống hiến sức mình cho Tổ quốc.
Sào Nam: Hiệu chính của Phan Bội Châu, thường được dùng để chỉ ông trong văn chương, thơ phú.
- Cụ Sào Nam từng sống những ngày tháng lưu vong ở đất khách.
Phan Văn San: Tên cũ (tên khai sinh) của Phan Bội Châu.
- Đầu xứ San: Danh xưng dân gian dựa trên thành tích đỗ đầu kỳ thi khảo hạch (thi xứ) thời trẻ của ông.
- Nhà cách mạng tiền bối: Chỉ những người đi đầu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn đầu.
- Chí sĩ yêu nước: Người có chí hướng lớn, hoạt động vì lợi ích của đất nước.
- Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo: Chỉ hoạt động đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập vào đầu thế kỷ XX.
- Hội Duy Tân của Phan Bội Châu: Tổ chức yêu nước do ông sáng lập năm 1904.
- Việt Nam Quang Phục Hội của Phan Bội Châu: Tổ chức cách mạng do ông thành lập sau này tại Trung Quốc.
(Không có thành ngữ, tục ngữ phổ biến nào trực tiếp sử dụng tên riêng "Phan Bội Châu". Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp của ông thường được nhắc đến như một biểu tượng.) - "Từ quan trường sang văn trường, từ văn trường sang chiến trường": Câu nói phản ánh phần nào hành trình từ một nhà nho (quan trường) trở thành nhà văn, nhà cách mạng (chiến trường) của các chí sĩ như Phan Bội Châu.
- (1867-1940)
- Tên cũ là Phan Văn San, hiệu Hải Thu, về sau lấy hiệu là Sào Nam, và khi viết báo, viết sách có nhiều bút danh khác như Thị Hán,Độc Tỉnh Tử, Hàn Man Tử v.v...Sinh ngày 1 tháng chạp năm Đinh Mão. Quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa), huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An. Xuất thân từ một nhà nho nghèo. Ngay từ nhỏ, Phan Bội Châu đã nổi tiếng thông minh. Bẩy, tám tuổi đã thông thạo các loại văn cử tử, mười sáu tuổi đi thi đỗ đầu xứ, nên cũng thường gọi là Đầu xứ San. Ông từng là một tay hát phường vải có tài. Phan Bội Châu sớm có tinh thần yêu nước. Mười bẩy tuổi thảo bài kịch "Bình Tây thư Bắc" dán ở cây to đầu làng. Mười chín tuổi (1885) kinh thành Huế thất thủ, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, Phan Bội Châu cũng tổ chức một đội" Thí sinh quân" gồm 60 người để ứng nghĩa nhưng chưa kịp hành động đã bị tan rã. Trong khoảng mười năm cuối thế kỷ XIX, Phan Bội Châu vừa dạy học để nuôi cha mẹ già, vừa tìm đọc thêm "Tân thư, tân văn" và mở rộng giao du, tìm người đồng tâm đồng chí. Ông thành lập "Hội Duy Tân"(1904), chủ trương dùng vũ trang bạo động. Đầu năm 1905, Phan Bội Châu trực tiếp lãng đạo phong trào Đông Du và từ năm 1905-1908 đã tổ chức gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật học tập ở các trường Đông văn thư viện và Chấn Võ. ở đây ông lại lập ra Công hiến hội để quản lý lưu học sinh. Các tác phẩm Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Sùng bái giai nhân, Việt Nam quốc sử khảov.v...đều viết vào lúc này. Tháng 3 năm 1909, tổ chức Đông du bị giải tán, Phan Bội Châu bị chính phủ Nhật Bản trục xuất, phải về ẩn náu ở Trung Quốc rồi sang Xiêm mở trại cày Bạn Thầm. Song chỉ hơn 1 năm sau, cách mạng Tân Hợi( 1911) thàng công Phan Bội Châu trở lại Trung Quốc, tyuên bố giải tán Duy tân hội, lập Việt Nam quang phục hội. Hội cử người về nước hoạt động, gây nên một số vụ bạo động vũ trang nhằm "lay tỉnh hồn nước". Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913. Năm 1917 ông ra tù. Ông tìm hiểu cách mạng Tháng Mười, viết báo ca ngợi Lênin... Giữa năm 1924, phỏng theo Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông cải tổ Việt Nam quang phục hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Và còn định cải tổ lại theo hướng tiến bộ nhất theo sự góp ý của Nguyễn ái Quốc (12-1924). Nhưng ngày 30-6-1925 trên đường từ Hàng Châu đi Quảng Châu vừa đến ga bắc Thượng Hải thì bị Pháp bắt cóc đem về nước rồi đem xử ở tòa đề hình Hà Nội. Cả nước đã bùng nổ một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ, đòi trả lại tự do cho Phan Bội Châu. Cuối cùng chính quyền thực dân đưa ông về Huế an trí. Từ 1926 trở đi, Phan Bội Châu phải sống cuộc đời"cá chậu chim lồng", bị cách ly với thực tế đấu tranh của dân tộc, nhưng vẫn không ngừng tuyên truyền yêu nước. Thơ văn ông tiếp tục nói nhiều đến nổi khổ nhục vong quốc và trách nhiệm người dân đối với nước. Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Thuốc chữa dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên...Phan Bội Châu còn soạn các công trình biên khảo Phan Bội Châu niên biểu, Xã hội chủ nghĩa Nhân sinh triết học, Không học đăng, Chu địch v.v... cùng với trên 800 bài thơ, phú, văn tế, tập văn.